Nguyen Thanh Hang
23-10-2006, 09:19 PM
:-& Ra rạp xem phim Việt Nam trong tình cảnh hiện giờ đều khiến người xem sốt ruột, muốn nhanh nhanh cho hết… để đi về. Làm phim để “sốt ruột” như vậy thì dễ, nhưng hiện giờ chưa có phim nào, chưa có dòng điện ảnh nhãn hiệu Việt Nam nào loại khiến người ta nóng ruột, nôn nao chờ tới ngày được xem…
Phim nội bao giờ làm người xem… nóng ruột?
Trong khi thị trường ca nhạc đang xuống dốc, gặp phải sự thờ ơ của khán giả thì thị trường phim được xem là mới hồi phục, đang trên đà thuyết phục người xem. Việc dòng phim thị trường “phục hưng” sau thời gian cả chục năm im lìm khiến cả người sản xuất lẫn khán giả đều chung tâm trạng hưng phấn, trong đó có cả niềm tự hào lẫn tự ái dân tộc, khi mà trong thời gian mình “im” đã kịp có hai thế lực điện ảnh nổi lên hùng mạnh trong vùng là Hàn Quốc và Thái Lan.
Ai đó đầy lòng tự tôn có thể chê phim Thái Lan là… sến hay phủ nhận bằng cách nói có thể thấy phim Thái chiếu ở Việt Nam đâu, thì vẫn phải thừa nhận rằng nền điện ảnh của họ mạnh hơn ta nhiều. Họ có nhiều phim ăn khách ngoài biên giới, mật độ phim đi dự các liên hoan phim quốc tế cũng nhiều hơn ở ta.
Trở lại với thị trường phim đang ở thời điểm học cách làm người xem… nóng ruột. Rõ ràng, những lời khen hơi quá dành cho những cái được gọi là “chiến dịch quảng bá” của các phim như Khi đàn ông có bầu, Đẻ mướn, 1.735 km, 2 trong 1… chỉ đầy tính xã giao hoặc đại khái.
Những ồn ào quanh mấy phim đó vẫn còn ở mức rất thô sơ của công nghệ quảng bá. Báo chí vẫn được coi là công cụ chính trong những chiến dịch quảng bá và quả là một số đông khán giả vẫn rất tin báo chí, nhưng việc các hãng phim phó mặc cho báo chí hay vài tấm băng-rôn lem luốc trên những nẻo đường thành phố thì chỉ cho thấy một “công nghệ” ở tầm thủ công.
Người muốn xem phim sẽ nhìn thấy băng-rôn, sẽ đọc báo và (có thể) sẽ tò mò đi xem. Vậy là phim ảnh hoá ra chỉ đánh vào cái thói quen dư âm “thơ bé” của mọi người là sự tò mò! Người ta tò mò đi xem Thành Lộc giả gái, tò mò xem Chi Bảo khoả thân, ngắm Việt kiều Johnny Trí Nguyễn vào vai đồng tính, xem người mẫu đóng phim, xem Đan Trường đánh võ, xem lớp trẻ 8X nói những chuyện… vĩ mô ra sao, xem game online trên màn ảnh thế nào… Xem xong thì sự tò mò cũng được thoả mãn, chờ lần tò mò tiếp.
Nhưng nền điện ảnh chỉ trông vào sự tò mò của người xem thì ai cũng thấy đích đến của nó thế nào. Và cái gọi là công nghiệp điện ảnh sẽ mãi chỉ dừng ở những trò đèn cù giữa người làm phim và người xem phim, tức là một trò chơi trẻ con. Những bộ phim Việt, muốn đi xa hơn, muốn làm được cái điều đang khiến người ta phải ganh tị với Hàn Quốc, Trung Quốc, nó phải tạo được xung lực kích thích người xem đi xem ở thế chủ động, người ta chờ đợi và thậm chí lên kế hoạch đi xem cho bằng được, người xem phải háo hức, phát sốt lên, các cửa rạp phải ở tình trạng chen chúc xếp hàng nhộn nhịp mua vé chợ đen hòng xí chỗ xem buổi công diễn, chứ không phải tranh thủ ghé rạp mà xem hay là có giấy mời thì đi cho đỡ phí như hiện nay.
Mà điều ấy không phải xa vời, chẳng qua lịch sử chưa tái hiện mà thôi. Thời huy hoàng của phim thị trường Việt Nam ngày xưa từng chứng kiến những cảnh đó. Một ngôi sao thời ấy là Việt Trinh bây giờ vẫn bồi hồi nhớ cảnh phóng xe qua các cửa rạp, nhìn người xem chen chúc rồng rắn vào xem phim mình đóng là… sướng. Thời oanh liệt chưa xa và chưa… trở lại!
Hơn hai năm nay, các hãng phim tư nhân ra đời và liên tiếp tung ra những bộ phim được gọi là “thị trường”, người ta hân hoan với một “mùa phim Việt” đến vào mỗi dịp tết nguyên đán. Khoảng thời gian trên dưới 2 tuần của “mùa hốt bạc” đã cho người ngoài một ảo tưởng về nền điện ảnh Việt mạnh mẽ, dựa trên những con số thuyết phục do nhà sản xuất phim đưa ra, không cần quan tâm số ảo hay số thực (cái này chắc chắn ngành thuế biết). Và sau đó thì sự im lìm lại diễn ra. Người xem vốn đã không nóng ruột, vẫn tiếp tục nguội lạnh.
Người ta không nóng bởi đi xem phim không phải chỉ để xem những câu chuyện tầm phào được cường điệu hoá kiểu tấu hài như trong Khi đàn ông có bầu, những màn giường chiếu bề bộn được dàn dựng không lấy gì làm đẹp của Đẻ mướn, những mảng miếng sân khấu của Thành Lộc được trưng dụng vào điện ảnh… Họ cũng không có nhu cầu suy ngẫm những chuyện trời ơi cùng hai nhân vật của 1.735 km hay những ẩn ý chẳng biết có không trong Hồn Trương Ba da hàng thịt. Có thể hiểu, khán giả còn có nhu cầu chiêm ngưỡng ngôi sao nữa, y như cách họ đi xem phim Mỹ, phim Hàn.
Nhưng ngôi sao điện ảnh thực thụ thì lúc này chắc chắn chưa có. Những cái tên Anh Thư, Kim Thư, Minh Thư, Mỹ Duyên, Trương Ngọc Ánh, Chi Bảo, Khánh Trình… chưa thể là tác nhân quyết định khiến người ta bỏ tiền mua vé, khắc hẳn thời trước, người ta náo nức đi xem Lý Hùng, Diễm Hương, Việt Trinh, Lê Tuấn Anh… Bây giờ người ta mua vé thường xem phim này ra sao – cái “Ra sao” đã được nói tới ở trên – chứ không vì phim này ai đóng. Johnny Trí Nguyễn có thể coi là trường hợp hiếm hoi “cái tên giúp bán vé được”, nhưng là để người mua vé thoả trí tò mò về diễn viên Hollywood về Việt Nam đóng phim, chứ không phải vì mê tài năng mà đi xem.
Và việc phim Hồn Trương Ba… bị lỗ vốn, dù đã được quảng cáo (theo cách truyền thống) khá tưng bừng, cho thấy một cái tên gây tò mò vẫn cứ có thể … rớt như thường. Thành Lộc giúp làm tăng số vé bán ra cho phim 2 trong 1 nhưng đó là do hiệu ứng một ngôi sao sân khấu chứ không phải trong vị trí một siêu sao điện ảnh. Không ai dám khẳng định nếu anh lại đóng phim, mà không vai giả gái, thì phim ấy tiếp tục ăn khách!
Vậy là một nền điện ảnh thương mại mà thiếu vắng ngôi sao thì sẽ tiếp tục… nguội, sẽ khó làm người xem nóng ruột. Và bài viết dài này, có lẽ cũng bắt đầu khiến người đọc sốt ruột, cũng sẽ khép lại vì chẳng thể nói thêm được gì nữa. Đơn giản là thị trường điện ảnh Việt Nam hiện nay đầy những bấp bênh, phim tưởng ăn khách có thể lỗ ê chề, hay ngược lại. Vậy thì những khẳng định hay nghi vấn về khả năng làm nóng ruột người xem của phim Việt, rất có thể sẽ không còn đúng nữa, ngay ngày mai chẳng hạn. Nếu thế thì… mừng quá!
Phim nội bao giờ làm người xem… nóng ruột?
Trong khi thị trường ca nhạc đang xuống dốc, gặp phải sự thờ ơ của khán giả thì thị trường phim được xem là mới hồi phục, đang trên đà thuyết phục người xem. Việc dòng phim thị trường “phục hưng” sau thời gian cả chục năm im lìm khiến cả người sản xuất lẫn khán giả đều chung tâm trạng hưng phấn, trong đó có cả niềm tự hào lẫn tự ái dân tộc, khi mà trong thời gian mình “im” đã kịp có hai thế lực điện ảnh nổi lên hùng mạnh trong vùng là Hàn Quốc và Thái Lan.
Ai đó đầy lòng tự tôn có thể chê phim Thái Lan là… sến hay phủ nhận bằng cách nói có thể thấy phim Thái chiếu ở Việt Nam đâu, thì vẫn phải thừa nhận rằng nền điện ảnh của họ mạnh hơn ta nhiều. Họ có nhiều phim ăn khách ngoài biên giới, mật độ phim đi dự các liên hoan phim quốc tế cũng nhiều hơn ở ta.
Trở lại với thị trường phim đang ở thời điểm học cách làm người xem… nóng ruột. Rõ ràng, những lời khen hơi quá dành cho những cái được gọi là “chiến dịch quảng bá” của các phim như Khi đàn ông có bầu, Đẻ mướn, 1.735 km, 2 trong 1… chỉ đầy tính xã giao hoặc đại khái.
Những ồn ào quanh mấy phim đó vẫn còn ở mức rất thô sơ của công nghệ quảng bá. Báo chí vẫn được coi là công cụ chính trong những chiến dịch quảng bá và quả là một số đông khán giả vẫn rất tin báo chí, nhưng việc các hãng phim phó mặc cho báo chí hay vài tấm băng-rôn lem luốc trên những nẻo đường thành phố thì chỉ cho thấy một “công nghệ” ở tầm thủ công.
Người muốn xem phim sẽ nhìn thấy băng-rôn, sẽ đọc báo và (có thể) sẽ tò mò đi xem. Vậy là phim ảnh hoá ra chỉ đánh vào cái thói quen dư âm “thơ bé” của mọi người là sự tò mò! Người ta tò mò đi xem Thành Lộc giả gái, tò mò xem Chi Bảo khoả thân, ngắm Việt kiều Johnny Trí Nguyễn vào vai đồng tính, xem người mẫu đóng phim, xem Đan Trường đánh võ, xem lớp trẻ 8X nói những chuyện… vĩ mô ra sao, xem game online trên màn ảnh thế nào… Xem xong thì sự tò mò cũng được thoả mãn, chờ lần tò mò tiếp.
Nhưng nền điện ảnh chỉ trông vào sự tò mò của người xem thì ai cũng thấy đích đến của nó thế nào. Và cái gọi là công nghiệp điện ảnh sẽ mãi chỉ dừng ở những trò đèn cù giữa người làm phim và người xem phim, tức là một trò chơi trẻ con. Những bộ phim Việt, muốn đi xa hơn, muốn làm được cái điều đang khiến người ta phải ganh tị với Hàn Quốc, Trung Quốc, nó phải tạo được xung lực kích thích người xem đi xem ở thế chủ động, người ta chờ đợi và thậm chí lên kế hoạch đi xem cho bằng được, người xem phải háo hức, phát sốt lên, các cửa rạp phải ở tình trạng chen chúc xếp hàng nhộn nhịp mua vé chợ đen hòng xí chỗ xem buổi công diễn, chứ không phải tranh thủ ghé rạp mà xem hay là có giấy mời thì đi cho đỡ phí như hiện nay.
Mà điều ấy không phải xa vời, chẳng qua lịch sử chưa tái hiện mà thôi. Thời huy hoàng của phim thị trường Việt Nam ngày xưa từng chứng kiến những cảnh đó. Một ngôi sao thời ấy là Việt Trinh bây giờ vẫn bồi hồi nhớ cảnh phóng xe qua các cửa rạp, nhìn người xem chen chúc rồng rắn vào xem phim mình đóng là… sướng. Thời oanh liệt chưa xa và chưa… trở lại!
Hơn hai năm nay, các hãng phim tư nhân ra đời và liên tiếp tung ra những bộ phim được gọi là “thị trường”, người ta hân hoan với một “mùa phim Việt” đến vào mỗi dịp tết nguyên đán. Khoảng thời gian trên dưới 2 tuần của “mùa hốt bạc” đã cho người ngoài một ảo tưởng về nền điện ảnh Việt mạnh mẽ, dựa trên những con số thuyết phục do nhà sản xuất phim đưa ra, không cần quan tâm số ảo hay số thực (cái này chắc chắn ngành thuế biết). Và sau đó thì sự im lìm lại diễn ra. Người xem vốn đã không nóng ruột, vẫn tiếp tục nguội lạnh.
Người ta không nóng bởi đi xem phim không phải chỉ để xem những câu chuyện tầm phào được cường điệu hoá kiểu tấu hài như trong Khi đàn ông có bầu, những màn giường chiếu bề bộn được dàn dựng không lấy gì làm đẹp của Đẻ mướn, những mảng miếng sân khấu của Thành Lộc được trưng dụng vào điện ảnh… Họ cũng không có nhu cầu suy ngẫm những chuyện trời ơi cùng hai nhân vật của 1.735 km hay những ẩn ý chẳng biết có không trong Hồn Trương Ba da hàng thịt. Có thể hiểu, khán giả còn có nhu cầu chiêm ngưỡng ngôi sao nữa, y như cách họ đi xem phim Mỹ, phim Hàn.
Nhưng ngôi sao điện ảnh thực thụ thì lúc này chắc chắn chưa có. Những cái tên Anh Thư, Kim Thư, Minh Thư, Mỹ Duyên, Trương Ngọc Ánh, Chi Bảo, Khánh Trình… chưa thể là tác nhân quyết định khiến người ta bỏ tiền mua vé, khắc hẳn thời trước, người ta náo nức đi xem Lý Hùng, Diễm Hương, Việt Trinh, Lê Tuấn Anh… Bây giờ người ta mua vé thường xem phim này ra sao – cái “Ra sao” đã được nói tới ở trên – chứ không vì phim này ai đóng. Johnny Trí Nguyễn có thể coi là trường hợp hiếm hoi “cái tên giúp bán vé được”, nhưng là để người mua vé thoả trí tò mò về diễn viên Hollywood về Việt Nam đóng phim, chứ không phải vì mê tài năng mà đi xem.
Và việc phim Hồn Trương Ba… bị lỗ vốn, dù đã được quảng cáo (theo cách truyền thống) khá tưng bừng, cho thấy một cái tên gây tò mò vẫn cứ có thể … rớt như thường. Thành Lộc giúp làm tăng số vé bán ra cho phim 2 trong 1 nhưng đó là do hiệu ứng một ngôi sao sân khấu chứ không phải trong vị trí một siêu sao điện ảnh. Không ai dám khẳng định nếu anh lại đóng phim, mà không vai giả gái, thì phim ấy tiếp tục ăn khách!
Vậy là một nền điện ảnh thương mại mà thiếu vắng ngôi sao thì sẽ tiếp tục… nguội, sẽ khó làm người xem nóng ruột. Và bài viết dài này, có lẽ cũng bắt đầu khiến người đọc sốt ruột, cũng sẽ khép lại vì chẳng thể nói thêm được gì nữa. Đơn giản là thị trường điện ảnh Việt Nam hiện nay đầy những bấp bênh, phim tưởng ăn khách có thể lỗ ê chề, hay ngược lại. Vậy thì những khẳng định hay nghi vấn về khả năng làm nóng ruột người xem của phim Việt, rất có thể sẽ không còn đúng nữa, ngay ngày mai chẳng hạn. Nếu thế thì… mừng quá!